Abstraction Hub

IA, UX, UI, User Experiences, Usability, Web Design, Information Architect, HCI

My 2017 Reading Challenges (updating…)

Tôi chỉ bắt đầu đọc nhiều từ năm 2010, sau khi thất bại với công ty start-up đầu tiên của mình với rất nhiều câu hỏi “tại sao?” và mình “sai ở đâu? thiếu sót ở đâu?”.v.v.. Trước đó thì lác đác, đọc theo cảm hứng, không theo chủ đề hay mục tiêu (kế hoạch) nào cả. Từ đó đến nay chắc cũng đọc được khoảng hơn 100 cuốn sách các loại nhưng chưa năm nào tự tạo “challenge” cho mình từ đầu năm. Okay! vậy thì 2017 sẽ là một năm như thế.

Không giống như những blogger khác, họ đặt mục tiêu theo tuần, hoặc theo số lượng 24-54 cuốn sách cho năm 2017 (khoảng 1 cuốn / 1 tuần), tôi không có nhiều thời gian đến vậy. Phần lớn sẽ là giờ nghỉ trưa, lúc ngồi trông em bé ngủ sau 9 giờ tối… hoặc đôi lúc rảnh rỗi cuối tuần. Vi thế, mục tiêu sẽ vô cùng đơn giản (nhưng vẫn tốt hơn là không có): 1 cuốn sách / tháng, min=12 và max=12+++ và những gì tôi đọc sẽ đều tập trung review vào 1 blog để tiện theo dõi, cập nhật.

Đọc là quan trọng, nhưng suy ngẫm và áp dụng sau khi đọc còn quan trọng hơn, do đó, số lượng không phải là yếu tố quyết định 🙂

Reading, after a certain age, diverts the mind too much from its creative pursuits. Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.

Dưới đây sẽ là những review ngắn gọn của những cuốn sách tôi đã hoàn thành (đã đọc xong) năm 2017.

Happy reading!

1/ Zero To One (tác giả: Peter Thiel)

Nguồn ảnh: amazon.com

Nguồn ảnh: amazon.com

Đây là cuốn được tổng hợp qua việc ghi chép lại bài giảng của 1 sinh viên trong lớp học về start-up của Peter Thiel, rồi sau đó biên tập, rút gọn thành sách. Nội dung không có gì phức tạp, nhưng bây lâu nay không ai nói tới: Độc quyền hay cạnh tranh. Để start-up thành công, họ phải “độc quyền” / hoặc “độc đáo” trong một lĩnh vực, một mảng thị trường, một phân khúc khách hàng nào đó. Từ khoá là “monopoly“. Nếu không làm được điều này, phần lớn các start-up sẽ chỉ đi theo con đường trở thành một công ty tham gia thị trường có sẵn và đứng vào hàng ngũ những cá thể cạnh tranh lẫn nhau (hay gọi là “competition“) cho tới khi diệt vong (do lợi nhuận từ market share không đủ duy trì công ty).

Cả cuốn sách chỉ có vậy, nói về những điều đơn giản nhưng 80% start-up đã sai ngay từ bước đầu tiên. Cuốn sách còn đưa ra 7 câu hỏi mà qua đó bạn có thể tự nghiền ngẫm rồi đánh giá 1 công ty xem công ty đó đang ở giai đoạn nào, còn thiếu cái gì để trở nên thành công. Tôi ước rằng mình có thể biết những điều này vào giai đoạn 2008-2009 khi mà tôi mới chập chững đi “mở công ty”. Sách phù hợp cho mọi người. Từ quản lý tới nhân viên, hay những người mong muốn khởi nghiệp cho riêng mình.

2/ It’s Not How Good You Are, It’s How Good You Want to Be (tác giả: Paul Arden)

00_its-not-how-good-you-are

Nguồn ảnh: Amazon.com

Ngay sau khi đặt chân đến Geneva, Thuỵ Sĩ vào tháng 12 năm ngoái, việc đầu tiên tôi làm là “phi” vào hiệu sách Payot Genève Cornavin (ở ga tàu) để chọn mua sách. Giữa bạt ngàn sách tiếng Pháp thì tôi tìm thấy cuốn sách này nằm khiêm tốn ở 1 kệ sách tiếng Anh, và với tác giả Paul Arden, tôi không ngần ngại mà mua luôn. Tuy nhiên, phải đến khi đi công tác HCM 5 tuần sau đó tôi mới đọc trên chuyến bay và say sưa cho tới khi máy bay hạ cánh. Sách của một người đứng đầu ngành quảng cáo, do đó vô cùng sáng tạo. Nếu ai đã từng đọc cuốn “Nghĩ ngược lại, và làm khác đi” của Paul, đã được dịch ra tiếng Việt, thì sẽ thấy ông luôn có những tư duy táo bạo. Paul khuyến khích con người cố gắng vượt ra khỏi những rào cản tư duy, bứt phá và tìm tòi sáng tạo không ngừng.

Giải pháp luôn có ở đâu đó, chỉ là bạn có chịu thay đổi cách suy nghĩ cũng như cách hành động hay không mà thôi. Trường học không phải là con đường duy nhất để thành công, đó là nơi mà “memorial game” dành chiến thắng và mọi người phải đi theo một mô tuýp sẵn có. Bí quyết nằm ở chỗ thả tự do trong suy nghĩ nhưng luôn đặt khách hàng làm trọng tâm, bạn sẽ tìm ra hướng đi. Sách nhỏ gọn, có thể đọc trong 1-2 giờ đồng hồ, nhưng nội dung của nó sẽ giúp bạn: chăm sóc khách hàng tốt hơn, tư duy cởi mở và sáng tạo hơn.

3/ Giấc mơ Mỹ, đường đến Stanford (tác giả: Huyền chíp)

Nguồn ảnh: Tiki.vn

Nguồn ảnh: Tiki.vn

Tôi chưa đọc hết 2 cuốn “Xách ba lô lên và đi” (tập 1, 2) nhưng cá nhân tôi thích những người giỏi. Mà trong con mắt tôi thì Huyền chip giỏi. Đơn giản là vì một người có thể làm đc nhiều điều mà người khác không làm được (dù có cố gắng) thì người đó đáng để tôn trọng. Khác với 2 quyển sách viết về đề tài đi phượt, cuốn sách thứ 3 của Huyền chip mang tính tự sự / bút ký nhiều hơn. Nội dung chủ yếu nói về cuộc sống ở Stanford, sự trưởng thành trong suy nghĩ và khả năng thích nghi với văn hoá Mỹ. Đi phượt khi còn trẻ cũng tốt, đi học cũng tốt, nhưng quan trọng hơn cả là bạn có thể đặt cho mình mục tiêu trong cuộc sống, tìm kiếm niềm đam mê và phấn đấu để thành công. Đó là tất cả những gì người trẻ cần. Sách phù hợp cho các bạn trẻ 15-25 tuổi ở Việt Nam, vì phần lớn các bạn thiếu định hướng (giống như mình ngày xưa) và chưa biết mình muốn gì.

4/ One plus one equals three: a master class of creative thinking (tác giả: Dave Trott)

Nguồn ảnh: Amazon.com

Nguồn ảnh: amazon.com

Done. Review to come…

5/ Evolutionology: The Power Of Knowing How People Work: Your Life, Instinct, & Emotional Intelligence (A Practical Guide) (tác giả: Arnie Benn)

3_evolutionology

Nguồn ảnh: amazon.com

Done. Review to come…

6/ Mẹ Sẽ Không Để Con Ở Lại (tác giả: Dương Thanh Nga)

4_me-se-khong-de-con-o-lai

Nguồn ảnh: Tiki.vn

Đây không phải cuốn sách “dạy làm cha mẹ”. Đây cũng không phải cuốn sách chia sẻ về kinh nghiệm nuôi dạy con. Đây là một cuốn sách khuyến khích những ông bố, bà mẹ trẻ hãy “chịu khó” đưa con đi du lịch ngay cả khi con còn nhỏ. Quan điểm này không mới, nhưng ở Việt Nam ít người quan tâm tới nó. Một phần vì người ta “ngại” đi đâu xa với trẻ em vì có quá nhiều thứ phải lo lắng, chuẩn bị, lích kích mang theo… Phần là vì ở Việt Nam, ông bà, cô dì chú bác.. hay “can thiệp” vào quá trình nuôi dạy trẻ và không muốn cho em bé phải tham gia những chặng đường dài, những lần di chuyển xa xôi. Vậy đó, nếu bạn thuộc tuýp người giống như tác giả, thích đi du lịch cùng con, thích mang con đi khắp nơi với mình thì nên đọc cuốn sách này.

Với cá nhân tôi, quyển sách này ra đời hơi… muộn. Vì tại thời điểm này, em bé 13 tháng tuổi của tôi đã đi du lịch 3 lần ở HCM, Đà Nẵng và Singapore. Giá như tôi có thể đọc sách này 1 năm trước, nó sẽ có ích hơn. Bây giờ thì cuốn sách này mang tính chất cổ vũ mà thôi. Nếu bạn chưa bao giờ mang con đi du lịch, bạn nên đọc để thấy vững tin hơn. Ngược lại, bạn có thể đọc “lướt” trong 1 ngày để lấy thêm cảm hứng. Sách viết về hành trình đi xuyên nước Mỹ , Trung Quốc, Romania, Myanmar.v.v.. của vợ chồng tác giả và em bé từ khi bé mới 7 tuần tuổi cho tới lúc hơn 2 tuổi. Có nhiều kinh nghiệm đi chơi với trẻ được chia sẻ (mà bản thân tôi cũng đã từng trải qua), tuy nghiên phần lớn nội dung của cuốn sách bị lan man miêu tả phong cảnh, lịch sử đó đây khiến cho các đoạn văn hơi rườm ra và xa rời chủ đề chính. Anyway, người Việt vẫn cần nhiều đầu sách như thế này trong tương lai gần.

7/ Why we work – (tác giả: Barry Schwartz)

07-why-we-work

Nguồn ảnh: TED

Done. Review to come…

8/ Start With Why – (tác giả: Simon Sinek)

08-startwithwhy

Nguồn ảnh: Google book

Done. Review to come…

9/ To Pixar and Beyond – (tác giả: Lawrence Levy)

1416891791

Nguồn ảnh: Amazon

100% completed…

10/ Coffee. From bean to the perfect brew – (tác giả: Jason Scheltus)

100% completed…

11/ Design for Use, 2nd Edition – (tác giả: Lukas Mathis)

10% Reading…

12/ When breath becomes air – (tác giả: Jason Scheltus)

images

100% Completed…

13/ Lời Tự Thú Của Ông Bố Tuyệt Vời Nhất Thế Giới – (tác giả: Dave Engledow)

100% Completed…

Còn nữa…

Advertisements

Communication products 

Giao tiếp với người sử dụng qua sản phẩm

IMG_2589

Dạo này bận tơi bời hoa lá.. Blog để mốc cả nửa năm không thèm ngó tới, lâu lâu lại tạt vào xem có gì hay ho nhưng thực sự chỉ có thể viết lách khi em bé đã ngủ say.

Trước giờ có nói tới UI is communication, nôm na là UI của bất cứ sản phẩm nào cũng có thể biến thành công cụ “giao tiếp” với người dùng / khách hàng. Dạo gần đây thì thấy nhiều hơn thế. Tranh thủ mấy phút rảnh rỗi share lên đây vài ví dụ thú vị.

Chiếc cốc của hãng Krispy Kreme Doughnuts có làm thêm 1 chiếc bánh donut ở đáy cốc, tạo cảm giác "wow" nho nhỏ cho người dùng và giúp "remind" lại brand một cách giản dị, hóm hỉnh, funny

Chiếc cốc của hãng Krispy Kreme Doughnuts có làm thêm 1 chiếc bánh donut ở đáy cốc, tạo cảm giác “wow” nho nhỏ cho người dùng và giúp “remind” lại brand một cách giản dị, hóm hỉnh, funny

 

gói sốt của mỳ chua cay Modem, sử dụng lời giải thích "chua cay hơi bị hay" tạo ra trải nghiệm thích thú và mang lại sự khác biệt với những gói gia vị nhàm chán của những sản phẩm cùng loại

Gói sốt của mỳ chua cay Modem, sử dụng lời giải thích “chua cay hơi bị hay” tạo ra trải nghiệm thích thú và mang lại sự khác biệt với những gói gia vị nhàm chán của những sản phẩm cùng loại

 

Miếng dán hạ sốt, lấy cái tên "bye bye fever" tạo cảm giác thích thú cho người dùng, phù hợp với con text trẻ em.

Miếng dán hạ sốt, lấy cái tên “bye bye fever” tạo cảm giác thích thú cho người dùng, phù hợp với con text trẻ em.

 

Máy đo nhiệt kế 1 giây, dùng icon để mô tả chức năng đo nhiệt cho người hoặc nhiệt độ phòng

Máy đo nhiệt kế 1 giây, dùng icon để mô tả chức năng đo nhiệt cho người hoặc nhiệt độ phòng

Có thể dễ dàng nhận thấy, những nhà sản xuất sản phẩm gia dụng mới là những người đi đầu trong việc ứng dụng “communication” trong từng sản phẩm của họ. Những thông điệp đơn giản, thể hiện qua copy-write hoặc icon đã mang lại trải nghiệm thú vị cho người sử dụng.

Bên cạnh đó, thay vì việc “đao to búa lớn” vào những chiến dịch truyền thông đã và đang trở nên bão hòa với người tiêu dùng, việc tập trung vào những chi tiết nhỏ dạng “micro-interaction” sẽ giúp cho người dùng gắn bó với sản phẩm cũng như thương hiệu tốt hơn.

Review “Làm Bạn Với Hình Làm Tình Với Chữ”

Capture

Đọc xong cuốn này trong vòng 1 tuần sau khi mua, cảm nhận ban đầu là sách khá độc đáo bởi có lẽ chưa có cuốn sách tiếng Việt nào trên thị trường nói về vấn đề này.

Copywritter luôn là một công việc mang tính “mù mờ” và không rõ ràng trong mắt người ngoại đạo. Khi nhìn vào quảng cáo, cá nhân tôi và có thể nhiều người khác chỉ nhìn vào mẫu quảng cáo tổng thể như Banner, TVC, Micro-site hay 1 đoạn clip phát trên truyền hình. Khi đọc cuốn sách này, bạn sẽ thấy đằng sau mỗi chiến dịch (campaign) quảng cáo là cả một ê kíp làm việc ngày đêm với thời gian (deadline) ngắn ngủi.

Tính độc đáo và cá tính của cuốn sách thể hiện ngay ở tiêu đề có phần “mạnh bạo” của tác giả. Ngay cả tác giả và người vẽ tranh minh họa cũng không nêu tên thật trong suốt cuốn sách, chúng ta chỉ biết là “Bút chì” và “Đốc tờ ti”. Do đó cũng không dễ để nhận ra người viết là ai ngoài đời thực nếu bạn không làm trong ngành quảng cáo. Blog cá nhân của tác giả cũng không còn (butchitoru.wordpress.com) do đó người đọc có lẽ phải tự cảm nhận về tác giả thôi. Sự cá tính của nội dung thể hiện trong từng câu chữ, giàu vốn từ, giàu tính sáng tạo cũng như tạo hình, tạo liên tưởng chỉ bởi từ ngữ. Điều này tưởng chừng như đơn giản, nhưng nếu ai tìm hiểu về “less is more” mới thấy copywritter là nghề đầy thử thách như thế nào.

Cuốn sách không chỉ nói về “nghề copywritter” đơn thuần, mà nó còn như một cuốn cẩm nang (guidelines) cho người nào muốn tìm hiểu và đi theo con đường sự nghiệp quảng cáo sáng tạo. Có lẽ chính vì vậy mà cấu trúc thông tin (IA) của cuốn sách được bố trí như một giáo trình từ giới thiệu, cho tới các bước phát triển, thăng trầm của nghề copywritter. Từ khái niệm sáng tạo cho tới teamwork, khách hàng (expectation management) và tính kiên định.

Điều tôi thích ở tác giả, dù mạch văn không liền và đôi khi hơi rời rạc, đó là cảm nhận anh ấy là một copywritter không thỏa hiệp. Tại sao? Đơn giản bởi nếu bạn làm trong ngành quảng cáo, dù là Print-ad, TVC, Web design.v.v.. thì phần lớn thời gian bạn sẽ phải thỏa hiệp và thảo luận với khách hàng về giải pháp thiết kế, thông điệp, ý tưởng. Càng làm lâu, bạn sẽ càng phải đối mặt với việc kiếm tiền cho công ty với việc đưa ra sản phẩm đạt yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp của bạn. Nhiều bản thiết kế bạn cho là đẹp, nhưng khách hàng dẹp đi, và nhiều dự án bị áp đặt (bureaucracy mindset) bởi ý nghĩ, tư duy của khách hàng dù họ chẳng có tí chuyên môn nào cả. Đôi khi đó là sự tranh cãi với người đứng đầu (Marketing manager, Innovation manager/director) bởi quan niệm (concept) khác nhau, triết lý định hình khác nhau…. Tác giả nhiều lần nhắc tới việc không thỏa hiệp để không làm hỏng sản phẩm của mình.

Sau cùng, cuốn sách ngoài việc chia sẻ về nghề copywritter còn mang lại cho bạn những kinh nghiệm làm dự án trong ngành quảng cáo, kể cả online (digital marketing). Lối viết nhiều ẩn dụ, do vậy nếu bạn đã và đang làm trong ngành từ 1 đến 2 năm thì bạn sẽ “thấm” nhiều hơn nội dung của nó.

UX cost và dự án

Nói về UX cost cho các dự án ở Việt Nam

jhwebit_doodle
(Ảnh: cost doodle, nguồn doodlecreative)

Tháng trước có bạn hỏi tôi về chi phí dành cho UX trong các dự án tôi đang làm, câu hỏi làm tôi phải suy nghĩ, khá hay, và ở vị trí đang làm tôi phần nào hiểu được thực trạng đó ở Việt Nam. Vậy nên hôm tôi muốn ghi lại vài dòng, biết đâu mấy năm nữa tình hình thị trường UX ở Việt Nam khá hơn, lúc đó đọc lại bài này sẽ thấy vui vui.

Ở Việt Nam có 3 mảng dự án mà tôi nghĩ có thể “có phần” cho UX:

  1. Product & creative: Đa phần là các dự án phát triển sản phẩm ở “các công ty product”. Các công ty này có nguồn vốn đầu tư để build sản phẩm. Ví dụ như Tiki, Foody, Ringier Media, Lazada, Vietnamworks, Zalora.. hay các cty chủ quản của website Dân Trí, VNExpress, Danhgiaxe.com v.v… Nói chung là build product hoặc duy trì, phát triển 1 sản phẩm (đa phần là sản phẩm công nghệ). Cơ hội làm UX ở đây, theo tôi, là lớn nhất. Chi phí dành cho UX (nếu có) cũng khá nghiêm túc. Tuy nhiên, chi phí này nhiều khi là 1 phần của chi phí design hoặc BA (business analysis)
  2. Outsourcing:  Đây là mảng thị phần lớn nhất trong ngành IT ở Việt Nam. 70-80% các công ty IT là làm về outsourcing, các công ty này làm nhiều thị trường, nhiều mảng nghiệp vụ, nhưng với các công ty làm về Digital Marketing (như cty tôi đang làm) thì công việc liên quan tới UX là đáng kể nhất. Cụ thể hơn là bạn được làm trực tiếp với digital design team và qua đó được “tham gia phần nào” vào công việc UX thường xuyên hơn. Chi phí này được tính vào chi phí product design hoặc đúng nghĩa UX job.
  3. In house projects: Là những dự án dành cho những team UX chuyên biệt của các tập đoàn lớn. Loại hình này không nhiều nhưng theo tôi biết họ, các công ty này, được đầu tư và có team UX riêng. Ví dụ như FSoft, Vinagame, và mới đây theo tôi thấy là VIB. Có lẽ còn nhiều công ty khác mà tôi chưa biết. Nhưng nói chung là vẫn hiếm. Chi phí cho UX trong phân khúc này chủ yếu nằm trong chi phí R&D (research and development). Vậy nên hàng năm vẫn sẽ có trường hợp review budget. Thực ra cái này thì ở đâu cũng thế, team UX phải tự sale chính mình, và các dự án của mình với cấp lãnh đạo cao hơn.

Đó là mảng dự án, còn sale cho chí phí này thì sao? Với loại hình dự án số 1 và số 3 thì chi phí này đã được “cấp trên” tính đến, vì dù sao đó cũng là chi phí đầu tư, do vậy chỉ còn băn khoăn với loại hình số 2: outsource. Cá nhân tôi sau 1,5 năm làm ở mảng digital marketing với thị trường Úc, Singapore, UK và Hongkong thì rút ra một số trải nghiệm như sau:

  • Khi việc tới tay mình thì đa phần đã qua khâu UX và UI/graphic design rồi, tuy nhiên mình được làm việc cùng với team UX bên phía đối tác để review và điều chỉnh (gọi là verify and adjustment). Mặc dù value không nhiều nhưng vẫn có thể đưa ra những điều không hợp lý, cung cấp giải pháp (bắt buộc bạn phải có alternative solution thì hẵng nói chuyện review nhé) để hiệu quả của sản phẩm được tốt hơn. Theo tôi thấy, dân làm trong ngành này cởi mở và sẵn sàng lắng nghe hơn là khách hàng của mảng enterprise .
  • Chi phí UX được tính vào những dự án lớn (khoảng 100K USD trở lên) khi đối tác không thực sự có team UX mạnh hoặc đội ngũ UX của họ quá bận rộn, quá mỏng. 6 tháng trở lại đây, tôi thường được làm việc với UX lead của đối tác, hoặc Design director / creative director của khách hàng để triển khai các công việc UX design. Nghĩa là không có được làm UX strategy hoặc UX project từ A tới Z mà làm các khâu như phân tích (analyse), customer experience journey, và phần lớn là interactive wireframe. Chính vì vậy mà thời gian làm việc với Axure của tôi ngày một nhiều lên.
  • Với những dự án re-design (website hoặc mobile app) thì chi phí cho UX là rõ ràng, tách biệt, tuy nhiên cũng không nhiều. Một lần nữa, chi phí này không dành cho user research. Các công việc cần làm là hợp tác với nhóm creative design (có thể của 1 bên thứ ba), với nhóm marketing để có số liệu. Các công việc như personas, user interview chủ yếu được thực hiện dưới dạng remote research. Tất nhiên vì thế mà tính hiệu quả không thực sự mạnh, làm đi làm lại cũng nhiều và chi phí UX cho phía công ty tôi đang làm cũng không cao. (vì đâu có làm được full qui trình cho họ). Mặc dù vậy, xét một cách tích cực thì khi đã có chi phí UX, nó cũng chiếm 20-30% tổng chi phí của dự án, có khi ngang bằng chi phí development, deploy, support cộng lại.

Như vậy có thể thấy rằng, chi phí cho UX ở đây (các công ty và dự án ở Việt Nam) hiện tại chưa nhiều và chưa định hình rõ ràng. Muốn làm về UX bạn cũng cần chọn những nơi có chi phí để làm, cũng như có chính sách hỗ trợ nó.

Một khía cạnh khác mà bạn cũng cần quan tâm là “không ai rót chi phí UX cho bạn để làm chơi”. Chi phí UX, theo kinh nghiệm của tôi, trước giờ luôn gắn với KPI dự án. Dù là dự án nội bộ. Ví dụ như một khách hàng của tôi, website của họ có doanh số online 500k – 1 triệu USD / tháng, họ đặt ra tiêu chí tăng trưởng 1% – 3% cũng khiến cả team của tôi “chạy theo” hết hơi rồi.

Vẫn biết UX project là ideal – build – test rồi lặp đi lặp lại, nhưng nếu quá trình này kéo dài quá lâu thì bạn sẽ không còn chi phí để thực hiện, lúc đó sẽ lẹm vào chi phí của các hạng mục khác trong dự án và thua lỗ là khó tránh. Vì vậy, UX lead và Project lead cần phối hợp chặt chẽ với nhau trong hoạch định dự án, và tới đây bạn cũng có thể thấy rằng làm UX cũng nhiều áp lực.

Persona or User Stories?

Nên sử dụng kỹ thuật persona hay là dùng user’s stories?

x1

(Ảnh: 90’s game – nguồn: www.hanselman.com)

Dạo gần đây thấy nhiều bạn (kể cả bạn sếp của mình) hay nói về user stories khi phân tích yêu cầu người sử dụng trong quá trình phát triển sản phẩm /dự án. Phần lớn tôi thấy các bạn có thể liệt kê ra hàng loạt user stories đối với một dự án web hoặc mobile. Ai cũng thuộc làu làu “khẩu quyết võ công” như sau:

“As a <type of user>, I want <some goal> so that <some reason>.”

Cá nhân tôi thấy pattern này áp dụng khá dễ dàng, dễ hiểu, có thể thể hiện cái người dùng muốn mà không phải giải thích nhiều ở góc độ kỹ thuật. User stories nếu liệt kê ra (đối với sản phẩm mang tính phức tạp cao như e-Commerce, Enterprise app) thì dài hàng chục trang giấy. Nó không phải là vô ích, nhưng với MVP hay Lean thì.. hơi mệt (cá nhân mình thấy vậy)

Tôi bắt đầu làm Scrum vào năm 2006 khi công tác tại Cebu – Philippines. Lúc đó tôi cũng áp dụng “máy móc” theo cách “As user.. I want…” để liệt kê đủ những stories mà mình thấy hệ thống cần có. Chẳng quan tâm tới những gì khác, cũng không biết người dùng thực sự họ nghĩ gì… Và tôi cảm thấy: xác định user stories không phải (không nên) là bước đi đầu tiên.  Với tôi, nó là persona.

Nói một cách đơn giản, ví dụ như trong cuộc sống, trước khi nghĩ rằng mình nên làm thế này, thế kia để lấy lòng 1 bạn gái, bạn cần phải hiểu người ta trước đã. Persona cũng vậy. Trước khi viết ra những user stories chính xác và phù hợp với user’s needs, bạn cần phải hiểu target users của mình cũng như hiểu khách hàng của mình cần gì. Trong nhóm target user của bạn, có bao nhiêu personas? Hay đơn giản hơn, bạn phân loại người dùng của mình theo nhóm, rồi tìm hiểu những nhu cầu, khó khăn và mục tiêu cần đạt được của họ khi sử dụng sản phẩm, rồi qua đó mới đưa ra những thứ họ cần về mặt chức năng của hệ thống.

Ví dụ dưới đây là sự phân cấp theo cách hiểu của tôi (cách tôi được học) về user research, kết hợp UX và Agile:

  • Persona
    • Epic
      • User stories
        • Task break-down (WBS)

..qua đó, trước khi đưa ra các user stories chúng ta tiến thành phân nhóm người dùng bằng cách xây dựng các persona tiêu biểu, rồi qua đó đưa ra nhưng chức năng chính của hệ thống, sau cùng mới xây dựng những chức năng cụ thể cho từng nhóm người dùng.

Nếu ngay từ đầu, bạn dựa vào thảo luận nhóm, dựa vào kinh nghiệm, dựa vào survey 1 nhóm người bạn quen, và đưa ra danh sách các user stories thì theo tôi, sẽ có nhiều điểm không phù hợp với UX approach, cụ thể như sau:

  1. Wrong target user: Không đúng đối tượng người dùng. Bạn thiết kế 1 website bán hàng rau củ quả, nhưng bạn, dựa vào kinh nghiệm thiết kế UX, liệt kê ra một loạt tính năng của e-commerce trong khi bạn không hiểu họ là những ai? Cụ thể hơn, user của bạn là phụ nữ, độ tuổi 25-40 tuổi, thường online vào giờ nào (để mua sắm)? , cần trình bày thông tin của những sản phẩm thiết yếu gì? khó khăn của họ là gì? Họ quan tâm tới rau tươi, tiết kiệm thời gian mua thực phẩm thiết yếu, giao hàng nhanh chóng đúng hẹn v.v.. Những thứ khác kiểu như so sánh sản phẩm, nhóm sản phẩm, bộ lọc, các loại hình thanh toán, zoom in/out sản phẩm… chỉ là thứ yếu.
  2. No role: với persona, bạn chỉ quan tâm tới người dùng thực sự, phân loại họ dựa trên các yếu tố con người , không phải tuân theo các vai trò của người dùng hệ thống (Kiểu như admin, mod, super user, newbie). Điều này tránh sa đà vào việc phân tích hệ thống thay vì phải phân tích người dùng.
  3. Wrong time (and waste): Loanh quanh với user stories ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm sẽ khiến bạn và team của bạn tốn rất rất nhiều thời gian. Thời gian phân tích, rồi xếp loại, rồi thiết lập thứ tự ưu tiên.. một lần nữa, nó khiến bạn tốn nhiều công sức trong khi bạn cần tập trung toàn lực vào suy nghĩ làm sao hiểu được nhóm user nào bạn cần phục vụ, khó khăn của họ là gì và mong muốn của họ ra sao (ở một mức độ rất high level).

Nói tóm lại, mấy thứ như epic, user stories, use case, scrum.. là cần thiết nhưng không nên lạm dụng. Scrum là 1 framework chứ không phải là process. Nghĩa là cái gì phù hợp đúng hoàn cảnh, thời điểm, đặc tính của sản phẩm thì ta áp dụng. UX vẫn cần chú trọng tới tìm hiểu và phân loại người dùng, xây dựng và điều chỉnh persona trong suốt vòng đời của sản phẩm, và những thứ như Lean, Scrum concepts là bạn đồng hành đi theo và hỗ trợ lẫn nhau.

P.s: Bài viết này phần lớn là quan điểm cá nhân. Tôi không muốn thấy quá nhiều bạn cứ băm bổ vào Agile/Scrum và cứ mang nó “đè” lên cái cơ bản của UX 🙂