Abstraction Hub

IA, UX, UI, User Experiences, Usability, Web Design, Information Architect, HCI

Tag: Behavior psychology

UX Thailand Feb 2019

May mắn biết đến event này khi đang tham dự UXSEA ở Singapore hồi tháng 11 năm ngoái, và nhìn thoáng qua thấy ban tổ chức có liên hệ với IDF để hợp tác, thế là mình liên hệ và nhận được vé mời ;). Ban đầu, bản thân mình nghĩ rằng chắc sự kiện cũng chỉ như UX event ở Singapore, nhưng trên thực tế thì qui mô của UXThailand2019 lớn hơn nhiều.

Với hơn 700+ người tham dự và các diễn giả được mời từ Mỹ như Jared Spool, hay Melissa Perri (tác giả cuốn “Escape the build trap”), phối hợp với những người làm trong ngành và nhiều kinh nghiệm tại Thoughtworks, cũng như các công ty digital ở Thailand, UXThailand2019 đã thực sự gây ấn tượng.

Mở đầu chương trình

Thẻ đăng ký của mình

Sảnh hội nghị.

Từ khâu tổ chức rất chuyên nghiệp, bài bản và qui mô, cho tới những “phụ kiện”, quà tặng và bố trí không gian ăn uống, giao lưu dành cho người tham dự cho thấy ban tổ chức rất quan tâm đến “trải nghiệm” của khách đến event. Không gian của địa điểm hội thảo là một nhà hát hiện đại trên tầng thượng của Siam Square với các thiết bị âm thanh, ánh sáng, sân khấu không chê vào đâu được.

Gặp lại team UX Malaysia, Indonesia và cả Philippines.

Giới thiệu về VR/AR trong user reseach tại sân bay New Zealand

Khi buổi hội thảo bắt đầu, ngay từ chủ đề đầu tiên của Melissa Perri đã làm tôi và các đồng nghiệp ấn tượng. Escape the build trap là tên của cuốn sách mà chính Melissa Perri là tác giả. Chủ đề được xoay quanh việc tập trung vào tầm nhìn của sản phẩm, xây dựng sản phẩm phục vụ đúng nhu cầu của khách hàng (client expectation) và làm sao đảm bảo được rằng, sản phẩm làm ra sẽ giúp khách hàng chinh phục được người dùng, đạt được mục tiêu cần thiết của dự án. Để làm được điều này, nhóm làm sản phẩm cần “bớt” thần tượng hoá Agile / scrum một cách máy móc mà cần tập trung vào những valuable deliveries, nghĩa là các bản “build” thực sự tạo ra giá trị như tăng tỷ lệ CRO, giảm tỷ lệ rời bỏ sản phẩm (app abandonment), v.v… Đằng sau việc này là quá trình thay đổi tư duy làm sản phẩm, cả team cần phối hợp với khách hàng để tạo ra sản phẩm có giá trị thực với người dùng thay vì làm ra một sản phẩm “theo đúng yêu cầu” của chủ đầu tư. Tất nhiên bạn có thể phản biện rằng việc này khó, không chỉ khó ở Việt Nam mà khó đối với bất cứ team làm sản phẩm nào trên Thế Giới (vì 99% các chủ đầu tư thường rất “tự tin” vào nhận định của mình). Mặc dù vậy, cái cần nắm bắt ở đây là tư duy, tư duy đúng thì sản phẩm làm ra sẽ giải quyết đúng vấn đề của end-user, và nó sẽ mang đúng nghĩa “user-centered” design. Đối với cá nhân mình, đây là bài trình bày làm hài lỏng phần lớn mọi người trong khán phòng và nó là một trong 02 bài nói tốt nhất của hội thảo.

Melissa Perri trong bài trình bày của mình.

Product kata – Melissa Perri

Tiếp theo là một số chủ đề “buồn ngủ” khác mà mình không muốn đề cập tới. Một phần là nó hơi “xa vời” so với những gì đang diễn ra tại Đông Nam Á, một phần là người trình bày không “truyền năng lượng” được cho khán giá. Chính vì thế mà thời gian giữa ngày của buổi hội thảo mình không tập trung cho lắm 😛

Bài nói ấn tượng thứ 2 cũng là bài trình bày cuối cùng của hội thảo thuộc về Jared Spool. Ai ở trong ngành HCI và UI lâu rồi thì đều biết bác này với trang web http://www.uie.com và các khoá học liên quan. Đây cũng là tác giả viết về UI design từ những năm 80′, 90′ khi máy tính chỉ có giao diện command line hoặc cùng lắm là GUI (Windows).

Đến với UXThailand2019 Jared Spool có bài phát biểu về chủ đề mơ hồ, và nhạy cảm, cũng rất khó đó là “future of UX design”. Nó khó bởi tương lai ai cũng “chém” qua qua được nhưng để định hình cho những người đi sau mình một cách nghiêm túc thì thực sự rất..rất khó. Nhưng Jared Spool đã làm rất tốt công việc của mình bằng lối kể chuyện nhẹ nhàng, dẫn dắt người nghe đi vào kịch bản của ông, để rồi mô hình hoá một loạt những ý tưởng mới. Một trong những ý tưởng quan trọng nhất đó là “broken comb” nhằm thể hiện ý tưởng phát triển kỹ năng của người làm trong ngày UX / digital design. Trước đây, khi đọc và học về Agile shortcuts hồi năm 2013, mình có biết đến T-shape model với cột dọc của chữ T là kiến thức nền tảng, và thanh ngang của chữ T là kiến thức mở rộng. (mọi người có thể google T-shape skill model để hiểu thêm nhé), nhưng với việc khuyến khích và đòi hỏi việc học liên tục của ngành, Jared Spool đã đưa ra đề xuất….học đều các kỹ năng, và theo thời gian, các kỹ năng này sẽ được tích luỹ, ghi nhớ rồi bổ trợ cho nhau (xem hình phía dưới).

Với những người mới vào ngành hoặc mới chuyển qua học về UX / product / UI design, các bạn có thể thấy hơi mông lung và mô hình này hơi quá sức. Nhưng thực tế là nếu đã làm digital product design một thời gian, kinh qua nhiều vị trí cũng như nhiều dự án thì các bạn sẽ thấy việc phải đọc và học thêm các kiến thức như business model, business operation, leadership, team building, psychology, marketing, customer serivce, business analysis, hay thậm chí IT (IA, mobile / web architect…) là điều không tránh khỏi (nếu không muốn nói là bắt buộc) để có thể hiểu sản phẩm, hiểu về hành vi tổ chức (tổ chức của mình và của khách hàng) để từ đó làm ra sản phẩm “thoả mãn yêu cầu”.

Jared Spool cũng có nói rằng: “ban đầu, bạn cứ bám sát kỹ năng nền tảng của mình, nhưng liên tục học hỏi và mở rộng kiến thức sang các mảng khác, lâu dần, kiến thức đó sẽ là của bạn”. Với cá nhân mình, mình thấy đúng.

Sân khấu, với logo của IDF ở dưới cùng, cạnh Axure 😀

Sự tiến hoá của ngành UX / UI design

Mô hình broken comb skill learning

Hội thảo kết thúc cũng là lúc để “team building” với các bạn trong khu vực và điều bất ngờ nhất là có nhiều bạn đến từ…Myanmar, một đất nước mà bản thân mình nghĩ vẫn chưa “năng động” bằng Việt Nam. Vậy mà, số người đến từ Việt Nam chỉ đếm được ít hơn số ngón tay trên một bàn tay 😦

Với nhiều người, tham gia hội thảo là sự kiện “tốn tiền” và thực sự không muốn “đầu tư” để..đi. Nhưng nếu không “chịu khó” đi và bước ra xem Thế Giới ngoài kia, người ta đang làm cái gì? Với tôi đây là điều quan trọng khi ở Việt Nam, phần lớn các bạn chỉ làm Web, mobile App và thậm chí các web và app các bạn làm cũng “bó hẹp” trong những mảng ít nghiệp vụ hoặc trong những ngành đã bão hoà như đặt xe, gọi đồ ăn, e-commerce.v.v..

Bản ghi chép của team UX Malaysia

Khép lại 2 ngày hội thảo và workshop, ban tổ chức UXThailand2019 thực sự đã làm rất tốt công việc của mình. Các diễn giả cũng như bài trình bày của họ chất lượng hơn rất nhiều những UX event khác trong khu vực. Hy vọng rằng, sang năm 2020, sẽ có nhiều bạn ở Việt Nam tham gia sự kiện này hơn, và xa hơn là UX Vietnam có thể có những event như thế này.

Bangkok, tháng 02/2019

2018 Reading notes

2018 là một năm…lười đọc kinh khủng 😦 Một phần là do mình hoàn toàn tập trung vào việc phát triển kinh doanh cũng như đầu tư thời gian làm nội dung cho các lĩnh vực khác nên so với các năm trước, “sức” đọc của bản thân chỉ bằng một nửa. Rất nhiều quyển sách được đọc trên máy bay và trong phòng chờ sân bay, tranh thủ lúc chuyến bay bị trễ. Mặc dù vậy, năm 2018 là năm tôi tập trung đọc sâu hơn về chủ đề “human engagement” nhiều hơn với mong muốn hiểu về con người hơn, và từ đó hỗ trợ sale, product design tốt hơn. Dưới đây là danh sách và những ghi chú để bạn tiện tham khảo, hy vọng nó sẽ giúp bạn phần nào 😉

1/ The Future UI/UX: From The Ground Up

Thang điểm: 5/10

Đánh giá: không nhiều ý tưởng mới, đa phần là những pursuasive techniques mà mình đã biết, phạm vi mà tác giả muốn nhắm tới thì rộng nhưng nội dung lại không đủ sâu để nêu hết các vấn đề đặt ra.

2/ Making It Right: Product Management for a Startup World

Thang điểm: 8/10

Nhận xét: Sách tập trung vào qui trình và hướng dẫn cho việc phát triển sản phẩm. Từ khâu thẩm định ý tưởng, cho đến khảo sát thị trường, đối thủ, khách hàng và tính khả thi của sản phẩm. Sách viết chi tiết và phù hợp với các bạn product manager, theo mình là “must read”.

3/ Practical Empathy: For Collaboration and Creativity in Your Work

Thang điểm: 8/10

Nhận xét: Đây là cuốn sách khá hiếm hoi viết về chủ đề thấu hiểu và đồng cảm: “empathy”. Yếu tố này tưởng như chỉ được đề cập đến trong tâm lý học hiện đại hoặc nghệ thuật lãnh đạo, tuy nhiên ngày nay “empathy” đóng vai trò rất quan trọng trong việc hiểu khách hàng, hiểu người dùng, hiểu nhân viên, hiểu đồng nghiệp..v.v.. Các dự án UX ngày nay, trước khi bắt tay vào làm việc cụ thể thì có thêm khâu “organization empathy” nhằm giúp đội dự án hiểu về tổ chức cũng như cân bằng được nhu cầu của chủ đầu tư, của người dùng cuối và các thành phần liên quan. Đây là yếu tố quan trọng giúp dự án đi đến thành công.

4/ The Best Interface Is No Interface: The Simple Path to Brilliant Technology

Thang điểm: 7/10

Sách về thiết kế giao diện (UI interface) và những góc nhìn về usability, physical step vs digital step, v.v.. Với foreword bởi Don Norman, nó rất đáng để các bạn làm UI tham khảo, nhìn vào thực tế sử dụng và xu hướng simplify, rồi qua đó nhìn lại cách thức giao tiếp của mình với người dùng thông qua UI. Bởi vì, UI is communication.

5/ Buyer Personas

Thang điểm: 7.5/10

Thông thường, khi mới học và làm về UX design hoặc UCD (User centered design) thì chúng ta hay nói về personas. Nôm na theo nhiều người hiểu “tạm” rằng, personas là xây dựng mô hình hoá hồ sơ của người dùng trong hệ thống. Thực tế thì không phải vậy, và rất nhiều bạn mắc sai lầm khi học về personas. Các bạn thường bỏ quên một yếu tố quan trọng, đó là “context” (tạm dịch là ngữ cảnh). Trong từng context khác nhau, personas sẽ khác nhau. Trong eCommerce hoặc marketing, sẽ là buyer personas, trong game, sẽ là player personas, vv… và bạn phải đi sâu vào từng context đó để có những cách khai thác thông tin (insights) phù hợp.

6/ Unlocking Secrets: How to get people to tell you everything

Thang điểm: 9/10

Tôi đọc sách này để trả lời câu hỏi: “Làm sao để có được đúng thông tin từ người dùng khi mình phỏng vấn họ?”. Thực ra các kỹ thuật trong sách không có nhiều cái mới. Để hiểu về “secrets” của người khác, về cơ bản, bạn vẫn cần dựa trên các kỹ thuật “empathy” và “sympathy” nhưng sẽ cần điều chỉnh ở các góc độ khác nhau, tần suất, bối cảnh khác nhau tuỳ vào độ tuổi, giới tính, xuất thân của đối tượng. Sách có đưa ra mô hình READ (Research, Engage, Access, Divert) khá đơn giản và dễ áp dụng, ngoài ra, emotional linking, syncher để tiếp cận và khai thác thông tin bài bản. Sách cũng phân loại, định nghĩa các loại “secrect” khác nhau của những độ tuổi, đối tượng khác nhau cũng như cách “push” & “pull” trong quá trình tiếp cận “emotional” của “secret keeper” 🙂 Recommend cho các bạn làm user research, hoặc làm HR, Director 😉

7/ Models – Attract Women Through Honesty – Mark Manson

Thang điểm 7/10

Đây là cuốn sách về “dating” 😀 Tôi đọc nó với một tò mò khi tìm hiểu về “woman / girl thinking, attention…” và nó là một trong những cuốn cần đọc trong quá trình học về human mind, human interest. Sách không dành cho đối tượng gay / les, mà chỉ tập trung vào women. Mặc dù tác giả viết sách này dành cho đàn ông học cách kết nối với phụ nữ (ở dây là Western women nói riêng) nhưng những phân tích tâm lý, các cách thức kết nối và đạt được sự đồng cảm đều là những nghiên cứu thú vị. Suy cho cùng, honesty (tạm dịch là chân thành) nhưng tôn trọng vẫn là những chìa khoá để kết nối con người với nhau. Nếu khách hàng của bạn là nữ giới, hoặc nếu bạn phải thiết kế sản phẩm, dịch vụ dành cho nữ giới, bạn nên đọc quyển này.

8/ Enchanted

Thang điểm 9/10

Cá nhân mình thích cuốn sách này, và đọc với tâm lý khá thích thú. Thực ra mình đọc lần 1 hồi 2014, sau đó bỏ dở và năm nay mới đọc hết một cách say sưa. Sách viết đơn giản, dễ hiểu và mục đích của sách là giúp người đọc hiểu được các bước để gắn kết với một ai đó thông qua con người, sản phẩm, dịch vụ. “Enchanted” dịch ra là mê hoặc, cuốn hút và nó được tác giả lấy làm tựa đề cho cuốn sách, khuyến khích các công ty, những người làm start-up nên đọc để xây dựng muốn quan hệ, gắn bó lâu dài với khách hàng của mình. Trong thế giới ngày nay, khi “inspiration” ngày càng trở nên quan trọng hơn “manipulation”, khi CX (Customer experience) và BX (Brand experience) dần bao trùm, phủ lên UX thì đây là cuốn sách bạn nên đọc, ít nhất 02 lần 🙂

9/ Damn Good Advice (For People with Talent!)

Thang điểm 9/10

Mình đọc cuốn sách này 2 lần trong năm 2018. Lần 01 là vào tháng 05, khi mới mua nó ở Bangkok, và lần 02 là tháng 12, trong những ngày cuối tuần. Đúng như một người bạn từng nói, sách dạng này thì lâu lâu mở ra đọc lại, để ngẫm nghĩ, và lên dây cót tinh thần. Sách này thì rất nổi tiếng, ai làm digital Ads, marketing đều biết, đặc biệt tác giả là George Lois, một trong những người nổi tiếng trong ngành creative advertising. Nội dung sách tập trung vào sự sáng tạo, cách tuy đổi mới, cách thức làm việc với khách hàng và không thoả hiệp với chất lượng thấp. Vì mình làm agency nên có rất nhiều điểm mình đã trải nghiệm trong hơn 10 năm qua, có lẽ phần nào nó khiến mình đánh giá cao cuốn sách này hơn.

10/ Smashing – Form Design Patterns by Adam Silver

Thang điểm: 3/10

Đây là cuốn sách “tệ” nhất mà Smashing từng xuất bản. Sách được ra mắt vào quí 3, năm 2018 với chủ đề quen thuộc “Form design pattern”. Nói về form design thì đúng là không mới, nhưng thiết kế form (biểu mẫu), ví dụ như form đặt vé máy bay, form đăng ký học sinh sinh viên, form điền thông tin bệnh nhân mới ở bệnh viện,.v.v.. luôn là vấn đề khó khăn đối với người thiết kế lẫn người sử dụng hệ thống. Đặc biệt là với các phần mềm nghiệp vụ (enterprise software) khi một biểu mẫu có quá nhiều thông tin cần điền (complex form fields) thì những thiết kế mẫu là cần thiết. Trái với kỳ vọng của tôi, sách được viết rất…sơ sài. Bên cạnh những bình luận về form, sách còn thêm vào các đoạn mã HTML / CSS không cần thiết (bởi nó cũng sơ sài không kém) và lại thiếu đi những pattern (thiết kế mẫu) mà người đọc tìm kiếm. Khi bạn đọc một sách về pattern design, điều bạn cần nhất có lẽ là: case study thực tiễn, vấn đề gặp phải và các thiết kế mẫu đi kèm giải pháp. Bạn sẽ không thấy những điều đó ở cuốn sách này.

11/ 100 Midcentury Chairs – And Their Stories

Thang điểm: 5/10

Tôi đọc cuốn sách này hoàn toàn trong lúc ngồi chờ những chuyến bay. Sách viết thì hơi chán vì mô tuýp lặp đi lặp lại, đi qua từng năm tháng, giới thiệu từng mẫu ghế ngồi, và cách thức thiết kế của những chiếc ghế. Mặc dù vậy, đây vẫn là quyển sách thú vị nếu bạn đã một lần phải đi mua ghế. Bạn sẽ hiểu được lịch sử của những chiếc ghế Tolix, Hanging egg, Eiffel chair..v.v.. cũng như cách tiếp cận khác nhau của nhà thiết kế. Có một điểm đáng lưu ý là những chiếc ghế nổi tiếng thường được sáng tạo và làm ra tại Đức, Đan Mạch, Thuỵ Điển… Nơi mà thiết kế nội thất rất phát triển trong những thập niên vừa qua. Bạn có thể xem thêm review chi tiết của tôi tại đây. Nhìn chung, nếu bạn thích tìm hiểu về văn hoá, nạp thêm chút vitamin cho mình và tích luỹ thêm kiến thức, tư duy phong phú từ lĩnh vực thiết kế khác, thì đây là cuốn sách không thể bỏ qua.

We have an intimate connection with chairs. They surround our bodies, they receive our imprint, they leave memories and are often passed down from family member to family member. No wonder chairs can bring out the best and worst in people. – excerpt from 100 Midcentury chairs

12/ Build Better Products A Modern Approach to Building Successful User-Centered Products.

Thang điểm: 8/10

Đây là cuốn có thể song hành cùng quyển sách “Making it right” mà tôi đã nhắc đến ở trên. Mặc dù cùng viết về “product development” nhưng cuốn sách “Build better product” tập trung vào kỹ thuật thiết kế sản phẩm nhiều hơn thay vì tập trung vào định hướng kinh doanh và ra mắt sản phẩm như “Making it right”. Sách gồm 6 phần, đi từ thiết lập mục tiêu, khảo sát, thiết kế sản phẩm, test sản phẩm, đo đạc các thông số khi sản phẩm đi vào vận hành, và cải tiến. Từng chương sách được viết rất chi tiết, đủ để giúp bạn nắm vững các việc cần làm trong nghề product design.

Bonus – Những quyển sách về cà phê, giải trí

13/ The coffee dictionary

Chấm điểm: 5/10 – trung bình

Quyển này đọc khá… chán, và nói thật, nếu tự viết, mình cũng có thể viết xong trong 2-3 tuần. Nội dung sách không có gì nhiều ngoài việc liệt kê các khái niệm của cà phê từ A-Z, rồi bổ sung các định nghĩa cho nó. Đối tượng phù hợp của cuốn sách này là những người làm trong ngành cà phê nhưng mới vào nghề. Nó không phù hợp với người làm cà phê chuyên nghiệp hoặc người không biết về cà phê bởi cách tiếp cận nội dung là không rõ ràng. Tiêu đề là “từ điển” nhưng khá sơ sài, nếu bạn định mua thì có lẽ nên dừng lại.

14/ Craft Coffee – A Manual

Thang điểm: 8/10

Trái ngược với cuốn Coffee Dictionary, cuốn Craft Coffee này hay tuyệt. Bỏ qua phần rườm ra hướng dẫn pha chế thủ công với những dụng cụ cà phê manual brew, một mô tuýp mà sách cà phê nào cũng sử dụng thì phần sơ chế, gieo trồng cũng như phân tích về chất lượng cà phê, độ cao, bảo quản, chiết suất…v.v.. lại rất chi tiết và chuẩn mực. Tác giả viết rất cẩn thận và dễ hiểu, và đảm bảo rằng, khi bạn đọc xong, nhiều kiến thức sẽ “vỡ toang”. Cá nhân mình thích cuốn này kinh khủng :D, vì nó giải đáp được rất nhiều thắc mắc về cà phê mà mình đã tự hỏi, đã trăn trở trong suốt 05 năm qua.

15/ Kyoto Cafe

Kyoto Cafe Book-500x500

Đây là sách du lịch, đơn giản, nhẹ nhàng. Ưu điểm của cuốn sách là có nội dung bằng tiếng Anh 😀 và người chụp thì chụp rất đẹp, sử dụng ton màu “deep color” mà mình ưa thích, nó rất phù hợp với “màu của Nhật Bản” trong con mắt của mình. Chỉ đáng tiếc là mình không được đọc nó trước khi đến Kyoto năm nay, nhưng không sao, đó sẽ là lý do để mình quay lại.

16/ Happiness Is . . . 200 Things I Love About Dad

Chấm điểm: 7/10

Đây là dạng sách doodle, short script nhưng lại rất dễ hiểu, truyền cảm hứng. Mình đọc cuốn sách này vào đầu năm 2018, trong thời điểm mà mình stress nhất với các mối quan hệ trong công việc. Nó như một liều thuốc an thần, giúp mình tĩnh tâm lại và cảm thấy yêu đời hơn. Trong cuộc sống, đôi khi đơn giản chỉ là thu mình lại, nhìn qua lăng kính khác, trân trọng những hạnh phúc giản đơn, để rồi thấy mình vẫn còn có nhiều điều trân quý.

17/ 101 Quick and Easy Secrets to Create Winning Photographs

Điểm: 6/10

Sách đơn giản, tổng hợp lại các tips về phơi sáng, và quan trọng nhất là bố cục cơ bản. Mình đọc quyển này vì dạo này bị chê là chụp xấu, lấy góc ẩu :))) thôi thì ôn lại kiến thức cho ảnh nó bớt xiêu vẹo. Năm 2019 sẽ đọc nhiều hơn và nghiêm túc hơn về bố cục (composition), xa gần, vanishing points, converging verticals…Nói chung, cái gì muốn tử tế thì đều phải có sự đầu tư nghiêm túc, đặc biệt là ảnh 🙂 Tác giả viết rất đơn giản, dễ hiểu và không lạm dụng những ngôn từ kỹ thuật của ngành.

Converging verticals don’t bother us when we are walking along a street, due to the close cooperation between our sense of balance and our visual perception. However, things look different when we view converging verticals in two-dimensional images, as our brain immediately signals that something is wrong. – Mượn lời từ Architect photography book

2018 khép lại với bấy nhiêu cuốn sách, hy vọng rằng qua phần tổng hợp này, bạn sẽ tìm thấy đâu đó một vài lựa chọn phù hợp cho bản thân mình. Vẫn còn nhiều cuốn sách khó mà mình đang đọc dở, chưa biết khi nào sẽ hoàn thành :D, ví dụ như “Why it’s art?”, “The science of coffee”, “5 Human types”, “HBR’s On Managing People”..v..v.. nhưng tin rằng, 2019 sẽ là năm mình đọc nhiều hơn nữa, trở lại với những trang sách nhiều hơn, là chính mình, là sống với một trong những đam mê lớn nhất của mình như 5-7 năm về trước.

Hà Nội, 31/12/2018

UXSEA 2018

Singapore bay

Thực ra thì event này diễn ra đã lâu rồi, từ cuối tháng 11 nhưng hôm nay mới có thời gian ngồi tổng hợp lại, để sang năm nếu có đi sẽ cân nhắc và tham dự những session mang lại nhiều giá trị thông tin hơn. OK, let’s start.

Conference room

Biết đến UXSEA qua một đồng người ở Malaysia khi bạn ấy share lên LinkedIn. Vì tò mò, nên mình đăng ký bởi cũng không mấy khi ra nước ngoài dự event kiểu này. Khi vào trang web thì thấy toàn bộ vé đã…sold out 😮 thật khó tin, nhưng có lẽ UX đang là hot trend ở Singapore. Nước cờ cuối cùng là lấy tư cách IDF của mình email trực tiếp cho ban tổ chức và may mắn thay, các bạn ấy mở cho mình thêm 1 slot với giá vé không đổi 😀

Cách tổ chức

Giống như các event ở nước ngoài, UXSEA (Viết tắt của User Experience South East Asia summit) có 03 ngày sự kiện. Ngày đầu tiên là workshop (mình không tham dự), và 2 ngày còn lại là conference. Cách tổ chức của UXSEA cũng có một số điểm khá chuyên nghiệp và đáng lưu ý như sau:

  • Check-in chuyên nghiệp, có quà tặng nho nhỏ và thiết kế tag đeo cổ khá đẹp
  • Đồ ăn, đồ uống đầy đủ, phụ vụ gọn gàng, sạch sẽ.
  • Các diễn giả nói ngắn gọn và không cho đặt câu hỏi tràn lan, các câu hỏi đều phải qua hệ thống đặt câu hỏi online và người dẫn chương trình sẽ lựa chọn sao cho phù hợp với chủ đề chính và khung thời gian cho phép.

Địa điểm của UXSEA event khá xa trung tâm, ở Mapple Tree city và nếu đi từ trung tâm thành phố, ngồi xe bus như mình sẽ mất khoảng 45 phút để đến nơi. Mặc dù vậy thì khu này là trung tâm của các cty công nghệ, accelerator, start-up..v.v.. và do UXSEA được Unilever tài trợ địa điểm nên làm được như vậy là khá tốt rồi. Vậy còn nội dung và diễn giả thì sao?

Rất đông người tham dự

Nội dung, diễn giả

Nhìn chung, diễn giả đều là những người có kinh nghiệm, đang quản lý những đội nhóm làm UX ở các tổ chức lớn như Singtel, Visa, PropertyGuru, Bukalapak, GoJek, v.v.. và có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực product design, team management. Tuy nhiên, phần lớn những diễn giả này không đi ra từ môi trường start-up của chính họ mà làm cho các unicon start-up, hoặc các công ty, tập đoàn lớn. Nghĩa là những tổ chức có tiền và kinh phí để làm UX. Chính vì vậy, nếu bạn là start-up builder, bạn tham gia sự kiện như này thì cần có một đầu óc cởi mở, bởi những gì họ chia sẽ không nghĩa là nó sẽ đúng và có thể áp dụng trong trường hợp của bạn.

Nội dung thì sao?

Ở góc độ cá nhân, tôi đánh giá nội dung của UXSEA phù hợp với người mới bắt đầu tham gia vào UX hoặc có 1-2 năm kinh nghiệm. Các chủ đề được đem ra chia sẻ hầu như không có gì mới trong 2 năm trở lại đây, nhưng có thể là mới được trao đổi ở Singapore, cụ thể như sau:

  • UX team management
  • DesignOps (chia sẻ từ quyển sách cùng tên)
  • Research culture
  • Chatbot script
  • Design ethic
  • Design leadership
  • v.v…

Nếu bạn đã hoạt động trong ngành digital design bao gồm UX, CX, behavioural marketing…thì những chủ đề này không mới với bạn, thậm chí bạn đọc và làm về nó hàng ngày. Trong giờ nghỉ ăn trưa, tôi có ngồi cùng với mấy bạn CEO của UX studio Malaysia thì chúng tôi đều thừa nhận rằng, nội dung của event cần chia sẻ kinh nghiệm trận mạc cũng như “practical case study” nhiều hơn. Các bạn ấy cũng nói rằng: đi event như thế này chủ yếu là dẫn nhân viên đi giao lưu học hỏi. Đây là một ý hay, khác hẳn với các công ty ở Việt Nam, toàn sếp đi giao lưu là chính :D.

Những điều thu lượm được

Kết thúc 02 ngày sự kiện UXSEA, điều tôi thu lượm được không nhiều nhưng cũng có một số điểm tích cực với cá nhân tôi và phần nào đó là sự hiện diện của IDF. Tôi xin thống kê một vài ý chính dưới đây:

  • Accept the differents – đây là cái tôi thích nhất bởi nó là nền tảng của Empathy. Điều này được bạn design lead của bukalapak chia sẻ và nó rất thực tế. Chúng ta cần chấp nhận sự khác biệt, trong mỗi tổ chức, trong mỗi người để từ đó cải thiện khả năng thấu hiểu, và rồi tạo ra những sản phẩm, dịch vụ tốt hơn.
  • IDF dần được giới thiệu với những người trong hội thảo. Bước đầu tôi đặt mối quan hệ với Kuldeep, người quản lý UXSEA và UXArmy. Chúng tôi nói về kế hoạch hợp tác lâu dài trong năm tới.
  • Tôi hiểu hơn về tình hình UX tại Singapore và các nước lân cận như Malaysia, Philippines, Indonesia, phần nào định hình được làn sóng đang nổi dần lên về ngành này.
  • DesignOps với large scale – cái này mới thấy ở Đông Nam Á, chủ yếu vẫn là team bukalapak (Start-up unicon về eCommerce của Indonesia) với team designer lên tới 100+ người.

Tất nhiên, nếu bạn mới bước chân vào làm UX, tôi vẫn khuyên bạn nên tự mình đi tham gia những sự kiện như thế này để có hình dung rõ hơn về ngành cũng như cách thức các công ty trong khu vực, những người chuyên nghiệp trong khu vực đang làm việc ra sao, vận hành đội nhóm như thế nào. Nếu có thể, bạn nên tham gia workshop để được thực hành về các khái niệm card sorting, brain storming, agile scoping, v.v..

With IDF Malaysia

Sau cùng, UXSEA là một sự kiện được tổ chức chuyên nghiệp, đông đảo người quan tâm và tham dự, dù chưa có nhiều tài trợ nhưng những người đứng ra tổ chức đã làm rất tốt, rất “có nghề” cũng như có nhiều kinh nghiệm dẫn dắt chương trình, chia sẻ kiến thức và kết nối cộng đồng.

Singapore, tháng 11/2018

DesignOps – Tìm hiểu sơ lược

Đầu năm 2018 (khoảng tháng 01), trên các blog về design xuất hiện một loạt các bài viết nhắc tới khái niệm DesignOps (viết tắt của Design Operations). Với ý tưởng cần một người điều hành chung, đảm bảo sự phối hợp tốt giữa designer team, khách hàng, các team khác (IT, Marketing), v.v.. cũng như nhằm đảm bảo team design đi theo đúng hướng, đúng chuẩn của doanh nghiệp.. một vị trí operation ra đời, và nó được gọi là Design Ops. Vậy DesignOps là gì? tại sao lại cần có vị trí này? nó áp dụng khi nào? và yêu cầu cụ thể ra sao?… trong bài viết này, tôi sẽ mô tả sơ lược để bạn đọc có một hình dung tổng quan nhất và cũng thực tế nhất (theo kinh nghiệm của mình).

Wires-V4-1-1000x438

Ảnh mô tả DesignOps – nguồn Airbnb

Designops là gì? 

Viết tắt của Design Operation, designops có thể hiểu nôm na là từ vay mượn của DevOps (trong IT) nhưng được áp dụng tương đối rộng hơn, phức hợp hơn (nghĩa là phối hợp cả theo chiều ngang và dọc với nhiều phòng ban, trong và ngoài cty hơn). Nếu cả công ty chỉ có bạn là designer (hoặc 1-2 người) thì bạn có lẽ chưa cần đến designops. Theo trải nghiệm của cá nhân tôi, designops là một người, thường là phụ trách mảng design của một agency lớn, (hoặc ít nhất là trợ lý của Chief Design), có trách nhiệm điều hành “toàn bộ hệ thống liên quan đến các công việc design” của cty nhằm đảm bảo mấy thứ sau đây:

  • Sự đồng nhất trong công việc: Cái này vô cùng quan trọng. Sự đồng nhất ở đây có thể đơn giản như là công cụ sử dụng trong thiết kế (không thể có ông thì XD, ông thì Figma, ông thì Sketch..), cho tới qui trình thiết kế. Nên nhớ rằng, ngay cả trong UX design thì cũng có rất nhiều trường phái khác nhau 😉
  • Sự tương thích và thích ứng trong các dự án: Nghe qua thì tương đối phức tạp nhưng nếu dùng từ tiếng Anh thì nó là integration & adaptive, nghĩa là bạn phải điều hành (operate) sao cho các sản phẩm của team design làm ra tương thích được với “khả năng, năng lực” của các bộ phận khác, ví dụ như IT. Sản phẩm mà team design làm ra phải “nói cùng một thứ ngôn ngữ” với các bộ phận khác trong công ty (kể cả ban GĐ) để họ có thể “hiểu” cái bạn đang muốn làm. Thứ “ngôn ngữ” này cũng cần “match” với kỳ vọng của khách hàng, đối tác. Nếu công ty nào có sẵn Agile process thì designops cần hiểu Agile và đảm bảo rằng sản phẩm đầu ra “khớp” với khách hàng (hay các stakeholders), qua đó giảm thiểu quá trình “anticulating design” (cái này bạn nên tự Google nhé).
  • Tận dụng lợi thế của các mô hình là việc khác: Đây là điều quan trọng nhưng thường bị các agency phớt lờ. Nếu cứ cắm mặt làm theo mô hình agency truyền thống, hoặc studio, cộng với khả năng giao tiếp yếu kém vốn có của team design và team AM sẽ dẫn tới cả công ty chỉ cố gắng “design the thing right” thay vì “design the right thing“. Đặc biệt là khi thử nghiệm, thậm chí có 1 chút áp đặt thì tôi thấy designops thực sự “ốp” được mọi người giao tiếp với nhau hiệu quả hơn. “Bắt” họ (designer) đi theo Agile, Scrum, Lean và thậm chí là PACT (People – Activity – Context – Technology, một IxD framework) thì việc chấp nhận điều chỉnh và cho ra nhiều phiên bản tinh chỉnh của công việc thiết kế UX (hoặc UI) sẽ nhanh hơn. Nên lưu ý rằng, trước giờ, design rất “ít” các qui trình tối ưu (khác hẳn với IT hay Business admin vốn nhất nhiều mô hình) bởi mọi người quen nghĩ rằng: design là phải sáng tạo. (Bây giờ thì cần định hướng và quản lý tốt hơn, bởi design ra cho ai làm tiếp phần còn lại? có bán được không? có ra hiệu quả không?…)
  • Đảm bảo và duy trì process chung: Hiểu một cách đơn giản, designops là người quản lý, điều hành chung design team của công ty và đảm bảo các bên “liên quan” hoạt động theo đúng qui trình đã đề ra. Qui trình này có thể “vay mượn” từ các mô hình nêu trên (Agile, Lean) và cũng được designops tối ưu theo thời gian sử dụng.
  • Đảm bảo tính khả thi: Cái này nên hiểu nôm na là “cờ ngoài, bài trong”. Nghĩa là người bên ngoài nhìn vào bao giờ cũng “tỉnh táo” hơn. Thay vì để team design cắm đầu làm “brain-storming” thì designops là người tập trung vào design thinking (nghĩa là solution oriented), tập trung vào data-driven decision making (các bạn muốn design gì cũng được, nhưng phải chứng minh nó hợp lý). Bên cạnh đó, designops là người đảm bảo sản phẩm của team design làm ra thì ví dụ như bên front-end làm được, back-end tích hợp được, khách hàng có tiền để trả, và người dùng có thể sử dụng cũng như tái sử dụng trong khoảng kỳ vọng nhất định.

Nghe qua thì thấy lằng nhằng phải không? Công nhận là hơi lằng nhằng 🙂

Vậy thì designops cần có những kỹ năng gì? 

Các kỹ năng designops cần có bên cạnh kỹ năng design sẵn có (không cần quá chuyên sâu, theo quan điểm của tôi)

  • Business modeling & product management: Phải hiểu business model và qui trình làm sản phẩm thì mới design ra một thứ “có thể giúp các stakeholder” đặt được mục đích. Ví dụ như tăng doanh số, hoặc tiết kiệm chi phí, hoặc đạt mục tiêu của marketing campaign..vv…
  • Front-end: Cái này không chắc là công ty nào cũng cần, nhưng với công ty mình là “bắt buộc”. Một người làm design phải hiểu khi áp dụng “vào thực tế” nó sẽ như thế nào? có khả thi không? nếu khả thi thì liệu performance có ổn không? v.v..
  • Agile skill: Kỹ năng làm việc linh hoạt, làm việc nhóm, tạo sân chơi và luật chơi cho team design và cả những bên liên quan. Từ năm 2009 mình mới nghiêm túc áp dụng và học tử tế về Agile, và sau này chỉ cần áp dụng đúng vài kỹ năng là hiệu quả khác hẳn. Người làm designops cần hướng team design (hoặc nhiều team design) vận hành theo các best practice của Agile, ngay từ việc quản lý source files tập trung, qui trình commit files, v.v… là đã tiết kiệm nhiều chi phí re-work không đáng có.
  •  Blind testing hay các kỹ năng test cơ bản để tìm ra vấn đề một cách khách quan.
  • Communication: Cụ thể hơn là quản lý được luồng communication trong và ngoài team cũng như trong cty đối với khách hàng, đối tác. Người làm designops có kinh nghiệm thì sẽ biết cách quản lý và xây dựng feedback-loop model phù hợp với team của mình để sao cho công việc hiệu quả nhất (vừa né/ giảm thiểu sự bực dọc của designers, của khách hàng và vừa quản lý chặt chẽ các bước bàn giao, CR theo qui trình đã xây dựng).

Thế tóm lại, designer không có kỹ năng quản trị thì bổ thêm một ông designops đúng không? Về mặt quản lý thì đúng một nửa, bởi khi công ty có nhiều dự án, nhiều team design nhỏ làm việc (có thể 1 dự án có nhiều phần việc phải tách ra nhiều team design) thì bạn cần quản lý sao cho mọi việc được thực hiện chỉn chu, đồng nhất. Tuy nhiên, designops không thể là người “chỉ biết về agile hay quản trị” mà còn phải hiểu biết về design (ví dụ như UI/UX lead…) , hiểu biết về business, quan hệ khách hàng (AM, CX…).

Thế design system thì sao? Đương nhiên, design system vẫn dùng bình thường trên góc độ chuyên môn dành cho designer, và nó sẽ là một phần việc cho designops quản lý, cập nhật.

Ở công ty mình, hiện tại mình đảm nhận UX research & document, và vẫn phải làm CEO, tuy nhiên, có bạn founder làm công việc designops. Bạn này thành thạo frontend cũng như các hệ thống digital (web, mobile) và cũng thạo về UI design. Tuy nhiên bạn này luôn đứng ngoài và challenge team như sau:

  • Rất hay nói “It doesn’t make any sense to me, please explain” (nghe ghét vãi 😀 nhưng sau này quen rồi thì thấy đúng là cần 1 ông như vậy).
  • Câu thứ hay hay hỏi là “How will it work in the real life?, show me, show me…”. Tôi đã từng rất bực khi nghe mấy câu này, nhưng khi làm hệ thống end-to-end cho Johnnie Walker thì đúng là ngoài việc design experience landing page xong còn phải tính toán toàn bộ các khâu trải nghiệm khác cho tới khi người dùng cầm được chai rượu trên tay.

Cái tiện của designops là bạn có thể áp dụng ở mức tư duy (mindset) cho một nhóm nhỏ trước rồi lan rộng dần ra. Qui trình của nó không cần phải phổ biến cho toàn bộ team mà bắt đầu bằng những người leader. Cách áp dụng có thể dùng kỹ thuật của Agile adoption, từ từ rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Hanoi October 2018

TH Milk – Khi user lười đọc due date

Với đồ thực phẩm thì “date” là thứ bạn luôn cần quan tâm trước khi sử dụng, nhưng chẳng mấy khi thực sự dành thời gian kiểm tra nó. Again, user is lazy :D.

Cũng không biết vô tình hay cố ý (mà mình đoán 90% là vô tình) mà với hộp sữa này, thông tin ngày sản xuất và ngày hết hạn được in (đóng dấu) ngay vị trí mà người dùng sẽ cắm ống hút vào. Bằng cách này, có muốn lờ đi không đọc thì bạn vẫn phải đọc qua trước khi cắm ống hút. (Basic instint về visual communication).

Các hãng sữa nên áp dụng điều này.

Các hãng đồ uống đóng hộp nên áp dụng điều này.

Các hãng đồ hộp cũng nên áp dụng điều này.

unnamed

TH True Milk không đường, NSX, HSD in ngay cạnh chỗ cắm ống hút.

Lần tới, nếu không có thông tin này “đập” vào mắt, mình sẽ lại bỏ qua.

Hanoi, 05/2018