Message match

Landing page conversion 1st thinking

MessageMatche-Headline-on-Landing-Page-must-match-the-Ad-copy

(Ảnh: Ad Message “match” với landing page. Nguồn: Inernet)

Thử tưởng tượng rằng một ngày nọ, khi bạn đang lướt facebook hay lướt web (đại loại thế) và nhìn thấy vài banner quảng cáo về cuốn sách mới ra mắt, hay 1 chiếc điện thoại giảm giá. Bạn click vào banner đó. Và rồi trang web hiện ra nhưng nội dung của nó chẳng liên quan gì nhiều tới thông điệp mà bạn vừa nhìn thấy trên banner quảng cáo kia. Kết quả là bạn phải tự dò tìm cái bạn cần. Confuse? Và chưa chắc bạn đã mua sản phẩm mà họ quảng cáo.

Cái trang web hiện ra sau khi bạn click vào 1 ad banner, gọi là landing page. Nó bắt nguồn từ khái niệm landing của máy bay, nghĩa là bạn đáp xuống một trang web mà trang web đó được thiết kế nhằm điều hướng bạn tới một mục đích tối ưu: mua hàng. (trong nhiều trường hợp khác là đăng ký thành viên, download ebook, v.v…). Cũng giống như khi bạn đi máy bay, khi chiếc máy bay hạ cánh xuống, mọi hành khách (vẫn phải ngồi trong chiếc máy bay) và chiếc máy bay được những chiếc xe ô tô điều hướng để đi vào đúng làn đường (right lane), và dừng đúng bến đỗ. Các hành khách sau đó được hướng dẫn đi đúng hành lang và lối đi định sẵn, ra khu lấy hành lý… Landing page trong web design cũng vậy. Bạn phải direct khách hàng vào đúng CTA (Call to action) button của mình.

Có nhiều sự nhầm lẫn giữa một landing pagehome page của website. Phải nói luôn, đây là hai khái niệm khác nhau. Đôi khi home page của một trang web cũng được thiết kế với đầy đủ tiêu chí như một landing page, nhưng phần lớn landing page được làm ra để phục vụ cho các digital marketing campaign. Mà đã dính tới marketing campaign thì landing page thường được thiết kế sao cho chiến dịch marketing đạt hiệu quả tốt nhất. Nghĩa là loại bỏ bớt những thứ rườm ra của 1 website (thậm chí cả navigation menu) và tập trung vào nội dung chính của chương trình.

MessageMatch-Disconnected-Headline_unbounce

(Ảnh: mô tả message từ Ad banner match với landing page title. Nguồn Internet)

Khi landing page ra đời, điều đáng lưu ý đầu tiên đối với những người thiết kế ra nó là thông điệp, hay main text của trang web này. Main text của landing page phải phù hợp và đồng nhất với message mà những marketer sử dụng tại các kênh quảng bá khác trên internet. Khái niệm này gọi là message match. Cụ thể hơn là nếu bạn đặt một banner quảng cáo cho một chương trình giảm giá, ở shop của bạn, trên vài tờ báo điện tử, hay sử dụng Google adword thì nội dụng của banner đó phải phù hợp với nội dung chính của trang web (landing page) hiển thị sau khi người dùng click vào banner.

If you want to increase your conversion rates, and capture more leads, you need to start sending your marketing traffic to campaign-specific landing pages – Oli Gardner (Unbounce.com)

Nếu bạn xây dựng website bán lẻ, khi bạn chạy 1 marketing campaign, hay redirect người dùng vào đúng trang của sản phẩm mà bạn đang khuyến mại. Mạnh dạn gạt bỏ những menu, banner rườm rà trong landing page. Nếu chạy campaign cho một sự kiện charity hoặc event training nào đó, hãy đưa người dùng “hạ cánh” vào đúng landing page được thiết kế như một registration form. Con người vốn rất ghét những thứ vòng vo, rườm ra. Con người vốn có tính lười biếng. Tôi cũng vậy. Và khách hàng cũng vậy.

Câu truyện đơn giản có vậy thôi. Rất nhiều website vẫn mắc phải “cái lỗi nhỏ” này.

Ở một góc nhìn đơn giản hơn của UX, thì message match chính là trải nghiệm của người dùng sau khi click chuột (experience after the click), và nhiệm vụ của người thiết kế phải làm sao cho sự trải nghiệm đó thấy thoải mái, dễ dàng và không ngắt quãng.

Don’t tag me your t-shirt

UX với các bạn bán quần áo, giày dép và tag loạn xạ trên Facebook

dont-tag-me-pls

(Ảnh: don’t tag me FB. Nguồn: Internet)

Phải nói thật là ở Việt Nam có phong trào làm gì cũng theo xu thế, trào lưu và phần lớn là bắt chước nhau. Từ cái đơn giản như trượt patin, nhảy hip-hop, đi xe đạp (thay vì xe máy), hay đình đám hơn là trà chanh, mở quán cafe, buôn hàng TQ (hàng Quảng Châu), hàng Hàn Quốc, dịch vụ ship đồ từ nước ngoài… Tất thảy đều “copy” nhau. Phần vì thấy lời, model đơn giản thì làm theo kiếm thêm (với những ai có thời gian), phần thì chạy theo thời thế, thấy người ta làm, mình cũng làm. Phàm những gì đi “copy” và không đầu tư chất xám thì nó chẳng lâu bền. Đơn giản là “không phải con mình” thì mình không việc gì phải tâm huyết với nó nhiều. Die soon.

Xã hội ngày nay có Twitter, Facebook và vô vàn những thứ online marketing tool để các bạn kinh doanh quần áo “sử dụng” với tên gọi rất thân thương “social marketing”. Vậy là một ngày đẹp trời, nếu trong số friends của bạn trên Facebook có ai đó “đánh hàng” TQ về bán (dạng không cần website, không cần shop showroom) thì chắc chắn 90% rằng bạn sẽ bị tag. Có người hy sinh cả Facebook cá nhân để kinh doanh, có người “chịu khó” hơn một chút thì tạo ra fan page riêng, với tên gọi riêng trên Facebook rồi sau đó mới tag những người trong friend list của mình. Không cần biết những người đó có nhu cầu mua hàng hay không.

Một lần nữa cần phải nhắc lại, một trong những giá trị cốt lõi của UX chính là personas. Và nếu target của bạn là end-user nhưng bạn bỏ qua điều này, cho dù là bạn cung cấp dịch vụ web design, hay bất cứ loại hình dịch vụ nào phục vụ con người (dạng service design) thì khả năng tạo ra khách hàng của bạn (covert to leads) sẽ là rất thấp.

Dùng Facebook không sai, nhưng up vài cái ảnh sản phẩm lên fan page của Facebook, rồi tag người quen vào đó không có nghĩa là bạn đang làm social marketing.

Để phòng tránh trình trạng “loạn tag“, Facebook từ lâu đã bổ sung tính năng cho phép user setting quyền được review mỗi khi “bị tag”, bởi đơn giản, user profile chính là personas. Việc làm của Facebook cũng chính là UX cho nhu cầu personas của người dùng. Vậy nên, nếu bạn mở shop online, đừng làm điều ngược lại. Ngày nay, Thế Giới không welcome điều đó.

Please-Donot-Tag

(Ảnh: Facebook rule, nguồn Internet)

Thế thì người nông dân phải làm gì?

Để giải đáp cho tình huống “social marketing” với những người “không chuyên” thì theo tôi, bạn nên biết, và nên đọc những cuốn sách của Gary Vaynerchuk. Ông là một chuyên gia hàng đầu về social marketing, mà thiết nghĩ, cách làm của ông khá đơn giản, hiệu quả và thực sự đặt khách hàng / user vào trung tâm của dịch vụ. Mặc dù anh Gary này viết hơi dài dòng, nhưng theo mình, tóm gọn có vài ý chính như sau (trích rút từ cuốn Crush It!The thank you economy):

  • Tham gia các forums, FB pages, follow twitter về lĩnh vực mình định kinh doanh (ví dụ như quần áo).
  • Lắng nghe các trao đổi, tìm hiểu vấn đề + thực trạng chung mà mass users đang phải đối mặt. (Ví dụ như đàn ông Việt Nam uống bia rượu rất nhiều, lại lười vận động mà cứ đi rao bán áo sơ mi slim-fit thì bố ai mua nổi).
  • Tham khảo các giải pháp hiện có (regular fit shirt) và cố gắng tham gia bình luận, giải đáp bằng tất cả kiến thức của mình. (Với quần áo là loại sản phẩm, hãng, chất liệu, cách bảo quản, giặt là…). Tất nhiên, muốn có uy tín tốt trong social community, bạn phải thực sự có kiến thức. Mà nếu lười thì chẳng bao giờ có kiến thức cả. Chăm chỉ, chịu khó thu lượm + học hỏi trên internet, và từ các online/offline community, eBooks, Magazines là cũng đủ rồi.
  • Khi có uy tín trong social/online community, bắt đầu tạo fan-page của mình trên Facebook, Twitter account, Google+ page và quan trọng nhất là brand’s blog. (blog của bạn).
  • Tiếp tục viết, lắng nghe, chia sẻ, đưa ra đánh giá, đưa ra lựa chọn, bộ sưu tập (với ai thích thời trang, bán buôn quần áo) của mình.
  • Bán hàng online. Nhưng cũng đừng quên dịch vụ online/offline đi kèm. Tất nhiên bạn phải học và thạo e-Commerce, hay ít ra biết sử dụng các dịch vụ sẵn có (gian hàng ảo dạng SaaS). Các thể loại như shipping, payment, warranty, return money/product policy… cũng phải dễ dàng, nhưng không thiếu phần chuyên nghiệp. (Nếu không biết tốt nhất là bỏ tiền ra học -> tiết kiệm thời gian).
  • Duy trì community, dịch vụ khách hàng, lắng nghe + chia sẻ với khách hàng trong những tháng ngày tiếp theo, bởi đó là tài sản của bạn.
  • …còn vài ideas nữa, nhưng thôi, bạn nên từ tìm đọc và áp dụng, dần dần kiến thức sẽ là của bạn.

Khi bạn đặt khách hàng vào trung tâm của dịch vụ, với vô số các công việc phải làm (chẳng sao cả, nếu yêu thích business của bạn, những việc đó đáng để bạn lao động ngày đêm), nghĩa là bạn đang “design” một dịch vụ với trọng tâm là user’s personas. Đó chính là user centered service design. Nói ra thì không có gì cao siêu cả. Nhưng cần xác định + tôn trọng khách hàng ngay từ đầu, họ sẽ cảm ơn bạn vì điều đó. Lợi nhuận rồi sẽ tới.

Khởi đầu với UX?

Những nguyên lý cơ bản của UX, và để có thể đi xa hơn…

ux-discussion

(Ảnh: thảo luận về UX, nguồn: Internet)

Đã 20 năm kể từ khi cuốn sách kinh điển với tựa đề “Usability Engineering” (1) của Nielsen ra mắt năm 1993, đánh dấu việc xuất bản, nghiên cứu và là một trong những tài liệu đầu tiên về usability trên Thế Giới. Kể từ đó cho tới nay, việc nghiên cứu tối ưu cách thức giao tiếp giữa con người và hệ thống máy móc, công nghệ cũng có nhiều thay đổi.

Nếu như usability engineering trên thực tế là quá trình rút ngắn khoảng cách giao tiếp giữa con người và máy tính nói riêng hay thiết bị công nghệ nói chung, tạo ra các sản phẩm có tính khả dụng (usable) cao thì cuối thập niên 90s, đầu thế kỷ 21 các trường đại học tại Mỹ và châu Âu cũng đưa vào giảng dạy chuyên sâu hơn bộ môn HCI (Human Computer Interaction), hay còn gọi là “giao tiếp người – máy” (2). Theo thời gian, việc thiết kế một sản phẩm công nghệ, một hệ thống thông tin được giao thoa giữa thiết kế công nghiệp và thiết kê tương tác, thậm chí công việc này còn quan trọng hơn và được thực hiện tỉ mỉ trước khâu thiết kế đồ họa. Cái đẹp được đặt sau tính khả dụng, bởi 1 sản phẩm được làm ra thì trước tiên phải có khả năng sử dụng được bởi người dùng, nếu không muốn nói là dễ sử dụng. Đó là sự ra đời của bộ môn Interaction Design ngày hôm nay.

Tôi còn nhớ vào những năm 1998 – 1999, khẩu hiệu của Microsoft hay những người làm phần mềm luôn là “easy to use” (dễ sử dụng). Chính vì thế mà hệ điều hành Windows hay những ứng dụng windows base một thời làm mưa làm gió, được người dùng đón nhận bởi người ta cần rất ít thời gian bỏ ra để học cách sử dụng. 5 năm trở lại đây, Apple cũng là một công ty áp dụng triệt để phương châm đó.

Ngày nay thì UX dường như là một “buzz word”. Tính phổ biến và độ “hot” của nó cũng tương đương với từ “start-up”. Người người nói về UX, nhà nhà nghĩ về UX khi làm sản phẩm, vâng, đặc biệt là với các công ty dạng “tech start-up” chuyên làm production. Ai cũng biết UX là viết tắt của cụm từ User Experience. Nghĩa là tạo ra các trải nghiệm cho người dùng. Wikipedia thì định nghĩa là “feeling” của người dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Tất nhiên, UX không chỉ dành cho Web app / mobile app mà còn áp dụng cho các ngành dịch vụ, sản phẩm công nghệ, chăm sóc khách hàng, v.v…

Có rất nhiều blog nói hoặc định nghĩa UX là gì. Nhưng khởi đầu với UX thì như thế nào? Nếu ngày mai, công ty của bạn lập ra một nhóm UX để làm sản phẩm, và các sản phẩm sẽ đa dạng bao gồm web app, mobile app, tablet và desktop thì bạn sẽ bắt đầu ra sao? Với mobile app, web app thì bạn có thể bắt đầu bằng cách xem các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, trở thành người dùng của họ và “test”. Hoặc bạn có thể đọc các tiêu chuẩn về Landing pages, CTA (Call to Action), các “UX rules” dễ áp dụng và so sánh… Tuy nhiên, để “không lạc lối”, có một vài điểm mà bạn, hay những ai định “nhảy vào” làm UX, cần ghi nhớ (3):

  • Be goal-directed. Phải xác định mục tiêu ngay từ đầu. Nghĩa là sản phẩm được thiết kế ra phục vụ đối tượng nào? Mục đích là gì? dành cho ai? Bạn muốn người dùng sẽ thao tác như thế nào? Muốn mang lại điều gì (lợi ích hay giải quyết vấn đề gì) cho người dùng và muốn thu lượm được gì từ họ?
  • Use your common sense. Hãy trở thành một người dùng, sử dụng sản phẩm của bạn và của các đối thủ cạnh tranh. Sử dụng cảm nhận của chính mình chứ đừng áp dụng cứng nhắc lý thuyết nào cả. Lý thuyết chỉ để tham khảo, người dùng + trải nghiệm và cảm nhận của họ mới quyết định tất cả. (Nếu tôi nhớ không nhầm thì Bill Gates hay Microsoft cũng có câu nói “eat your own dog food”).
  • Context is everything. Context được hiểu là bối cảnh, hoàn cảnh mà sản phẩm của bạn sẽ được sử dụng. Ví dụ mobile sẽ khác với desktop application. Máy ATM và phần mềm của nó sẽ khác với giao dịch thương mại trực tuyến. (Tôi cũng đã có bài viết về Mobile context).
  • The answer to most questions is “it depends”. Cái này quan trọng. Nôm na là tính linh hoạt của thiết kế cũng như sự thích nghi với đối tượng người dùng, hoàn cảnh. Tùy thuộc từng tình huống và hoàn cảnh (bao gồm cả văn hóa – cross culture) mà có những sản phẩm phù hợp. Văn hóa và thói quen của người châu Á sẽ khác với người châu Âu, Mỹ.v.v… Điều này tôi đã trực tiếp trải nghiệm khi ở Mauritius, dân văn phòng ở đây dùng foursquare nhiều hơn facebook rất nhiều, nói đúng hơn thì đa phần ít dùng hoặc không dùng facebook.
  • It’s about the people. User Experience thì đương nhiên là trải nghiệm của user. Toàn bộ các tính năng, thiết kế đều xoay quanh user và các experiences của user đó. Trong UX gọi là personas. Hay có thể nói, cốt lõi của UX chính là personas. (Tôi sẽ viết chuyên sâu về personas ở các blog sau này).
  • Everything should be evaluated in its own way. Bạn cần biết, cần lưu ý và thoải mái đón nhận sự thay đổi trong quá trình vận hành và phát triển sản phẩm. Không có một thiết kế nào có thể hoàn hảo ngay từ đầu. Đặc biệt là khi áp dụng UX. Cũng giống như đi làm vậy, sinh viên mới ra trường thì làm gì có kinh nghiệm làm việc. Sản phẩm cũng thế, chừng nào người dùng chưa đăng ký tài khoản và sử dụng web / mobile app của bạn thì lấy đâu ra experiences của users. Vì vậy, khi sản phẩm của bạn “go live”, bạn cần theo dõi hành vi của người dùng, từ đó tổng hợp, đúc rút ra những điểm cần cải tiến. Đó chính là quá trình “tiến hóa” đối với sản phẩm của bạn (4). Một điểm quan trọng nữa ở đây chính là evaluate. Phải luôn đánh giá nghiêm túc sản phẩm của bạn trước và sau khi “go live” cũng như trong suốt quá trình vận hành.
  • Improvise, adapt, and overcome. Ứng biến, thích nghi và vượt qua những khó khăn, thay đổi. Đây chính là công việc cần thực hiện, thay đổi và thích nghi với phản hồi của người dùng. Trong ngành IT, cụ thể là thiết kế phần mềm, việc này rất hay gặp phải. Các lập trình viên, thậm những người làm solution architect thường tỏ ra khó chịu khi người dùng “phản hồi” về các chức năng của phần mềm. Có những tính năng được thiết kế, xây dựng rất công phu nhưng người dùng lại “không cần” nó, hoặc sử dụng rất ít. Và ngược lại, những chức năng đơn giản, đôi khi người dùng lại rất vất vả để thao tác hoặc không tìm thấy sau khi cài đặt phần mềm của bạn. Đó là thực tế. Ai làm phần mềm cũng từng trải qua.

Đã có thời, những người làm sản phẩm phần mềm hay làm dự án phần mềm phục vụ end-user thường đổ tại người dùng khó tính, thay đổi yêu cầu (change request) so với mong muốn ban đầu. Tôi cũng từ tỏ ra khó chịu vào thời điểm ti toe làm dự án phần mềm năm 2004. Nhiều người cho rằng cần thắt chặt khâu “quản lý yêu cầu” (Requirement Management) nhưng rồi mọi thứ phải thay đổi. UX là thứ mà người dùng của bạn phải sử dụng sản phẩm thì mới có. Cho dù ban đầu họ (users) có thể đã sử dụng các phần mềm tương tự, họ mong muốn những tính năng khá cụ thể, mô phỏng rõ ràng… nhưng khi sử dụng, họ mới nhận thấy mình thực sự cần những gì. Agile ra đời để đáp ứng sự thay đổi đó. Chấp nhận thay đổi nhưng phải quản lý và theo dõi nó. Sản phẩm có UX tốt là sản phẩm được áp dụng đúng qui trình dành cho UX, áp dụng các qui tắc Usability, UI… nhưng cũng linh hoạt để tối ưu với những phản hồi của người dùng, hoặc sau quá trình theo dõi hành vi của họ. Hy vọng rằng, dù làm việc trong 1 nhóm UX mạnh hay hoạt động độc lập, với việc áp dụng những nguyên lý cơ bản nêu trên, bạn vẫn có thể hoàn thành tốt công việc của mình và cho ra mắt những sản phẩm hữu ích trong tương lai.

Ghi chú:

(1) Tham khảo cuốn Usability Engineering, Jacob Nielsen, 1993

(2) Nói là “giảng dạy chuyên sâu” hơn bởi ngành HCI có từ những năm 1979 – 1980 tại Mỹ.

(3) Tôi tóm tắt các phát biểu (quan điểm) của Rex Hartson, một người làm UX trên 30 năm và là tác giả của một số cuốn sách UX nổi tiếng. Sáng lập và phụ trách giảng dạy bộ môn HCI tại đại học Virginia Tech.

(4) Việc theo dõi hành vi người dùng còn gọi là Observing user experience.

UI vs UX, thêm một góc nhìn

Phân biệt UI, UX dưới góc nhìn interaction design

ux vs ui

(Ảnh: UI/UX, nguồn Internet)

Từ khi UX (User Experience) ra đời thì có khá nhiều các blog, website nói về sự khác biệt giữa UI, UX. Hoặc với nhiều người thì đây là việc “rõ như ban ngày”. Hiểu nôm na thì UI (User Interface) là giao diện người dùng, có từ khi máy tính / máy điện toán ra đời và khá phổ biến trong thiết kế phần mềm máy tính ở thập niên 90. UX (User Experience) là những gì người dùng “trải nghiệm” trong và sau khi sử dụng sản phẩm. Có người nói, UI đi trước, UX đi sau. Cũng có người nói UI là giao diện, là sản phẩm còn UX là thương hiệu, dịch vụ, và là cảm nhận của người dùng, có tài liệu thì khẳng định UI cũng là 1 phần của UX… OK, có rất nhiều quan điểm, so sánh, nhìn chung là có vẻ dễ hiểu, nhưng cũng rất chung chung.

Thêm vào đó, những trang web như UX is not UI ( http://uxisnotui.com/ ) còn đưa ra bảng thống kê những khác biệt về UX và UI một cách rất cụ thể, chứng minh sự bao trùm của UX lên mảng UI với khẳng định UX là một giải pháp hoàn thiện.

“UX is the intangible design of a strategy that brings us to a solution”

Theo tôi quan niệm này không sai vì sản phẩm nào mà chẳng có phần UI để người dùng thao tác, tương tác với các tính năng của nó. Nhưng liệu có cách nhìn nào “dễ chịu” hơn và dễ hiểu hơn với UI cũng như tầm quan trọng của nó hay không?

ux vs ui with-title

(Bảng so sánh UX, UI, nguồn http://uxisnotui.com/ )

UI is communication

Có một điều thú vị là, năm 2013 đánh dấu sự trở lại về việc nghiên cứu cải tiến UI, với nhiều sách vở, paper về nó. Ở góc độ tương tác với người dùng, Everett McKay đã đưa ra quan điểm, nhận định khá dễ hiểu như sau: UI is communication. Trong nhận định của mình, McKay chỉ rõ 2 điểm như sau:

  • UI (User Interface): là phương tiện kết nối giữa người dùng và sản phẩm công nghệ. Một chiếc TV có các nút bấm điều khiển, có bảng điều khiển hiển thị kênh, âm lượng. Một website có các menu tương tác, nút bấm, thanh toán hay một chiếc ô tô có vô lăng, bảng thông tin điện tử hiển thị lượng xăng, tốc độ.v.v… Đó chính là “giao diện” hay là tiếp diện để giao tiếp với người dùng. Là những gì người dùng “trực tiếp nhìn thấy” và “cảm nhận” khi sử dụng 1 sản phẩm. (Looks and feels).
  • UX (User Experience): bao gồm toàn bộ trải nghiệm của người dùng đối với một sản phẩm. Trải nghiệm này tất nhiên bao gồm cả tương tác UI nhưng ngoài ra, nó còn bao gồm những thứ mà người dùng không giao tiếp trực tiếp với sản phẩm. Để dễ hiểu hơn, trải nghiệm có thể là quá trình mua hàng trực tuyến, hay mở gói một sản phẩm (un-pack), hỗ trợ kỹ thuật, chăm sóc khách hàng, chế độ bảo hành..v.v…

Giao tiếp luôn là chìa khóa của cuộc sống, và đối với phần mềm cũng vậy. UI là cách mà người dùng giao tiếp với hệ thống. Thông qua UI, người dùng biết họ phải làm gì. Ngược lại, với UX, đó là 1 quá trình nghiên cứu để giảm thiểu các thao tác “thừa” cho người dùng, giảm bớt những gánh nặng và những khó khăn mà người dùng gặp phải.

“User interface design addresses actions users must do, but user experience design also addresses actions users don’thave to do” – Everett McKay

Một hệ thống được thiết kế UI tốt thường là một hệ thống có các màn hình giao diện dễ sử dụng, hiển thị dashboard thông tin tốt, cho phép người dùng cấu hình (configuration) các thông số ngay sau khi cài đặt hoặc đăng ký sử dụng. Nhưng tiến xa hơn nữa, một hệ thống có UX tốt là hệ thống “không bắt” người dùng phải thiết lập các thông số cấu hình (configuration) trước khi sử dụng. Ví như Twitter chỉ cần đăng ký account là có thể tweet ngay lập tức.

Nói một cách ngắn gọn, UI chính là cách thức, phương tiện giao tiếp giữa người dùng và phần mềm, dù đó là web hay mobile app. Một UI tốt là UI mà người dùng có thể dễ dàng tiếp cận, dễ dàng “giao tiếp” thậm chí không phải đọc tài liệu user guide hay phải có người đào tạo. Hãy nhìn nhận UI là communication, và UX là quá trình trải nghiệm, cải tiến và rồi mang lại feeling tốt hơn.